Tư vấn pháp luật doanh nghiệp

So sánh Luật doanh nghiệp năm 2005 và Luật Doanh nghiệp năm 2014

Luật Doanh nghiệp năm 2014 số 68/2014/QH13 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2015 thay thế cho Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29 /11/2005 và Luật sửa đổi, bổ sung Điều 170 của Luật doanh nghiệp số 37/2013/QH13 ngày 20/6/ 2013 với nhiều điểm tiến bộ.

Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định còn hạn chế của Luật Doanh nghiệp năm 2005, giúp tháo gỡ nhiều khó khăn hạn chế cho doanh nghiệp trong quá trình đăng ký thành lập, hoạt động kinh doanh, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, bắt kịp xu hướng chung trong nền kinh tế thị trường đầy biến động của thế giới.

Sau đây, Công ty Luật Quốc Huy xin giới thiệu tới bạn đọc bản so sánh những quy định mới của Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Doanh nghiệp năm 2005.

1. Những điểm mới về Đăng ký kinh doanh

Những điểm mới về Đăng ký kinh doanh
Những điểm mới về Đăng ký kinh doanh

a) Thời gian cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã rút ngắn thời gian cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của các cơ quan đăng ký kinh doanh.

Cụ thể như sau: quy định tại Khoản 2, Điều 27; Khoản 3, Điều 31 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì cơ quan đăng ký kinh doanh phải xem xét tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký kinh doanh và báo lại kết quả cho Doanh nghiệp trong thời hạn là 03 ngày làm việc trong khi quy định cũ của Luật Doanh nghiệp năm 2005 tại Khoản 2, Điều 15 là 10 ngày làm việc.

b) Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã loại bỏ 6 nội dung không cần thiết trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Theo quy định tại Điều 29 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp chỉ còn 4 nội dung chính (Luật Doanh nghiệp 2005 là 10 nội dung chính) là: Tên doanh nghiệp và mã số doanh nghiệp; địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp; thông tin chi tiết nhân thân của cá nhân là người đại diện theo pháp luật, chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, thành viên công ty và thông tin của thành viên tổ chức; vốn điều lệ của doanh nghiệp.

Bỏ nội dung ngành nghề đăng ký kinh doanh:

Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã bỏ nội dung ngành nghề đăng ký kinh doanh trong giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, điều này tạo nhiều thuận lợi cho doanh nghiệp khi tiến hành các thủ tục đăng ký kinh doanh, sửa đổi bổ sung ngành nghề đăng ký kinh doanh.

Xem thêm các nội dung tư vấn về doanh nghiệp, thành lập doanh nghiệp của chúng tôi:

2. Những điểm mới về góp vốn thành lập doanh nghiệp

a) Quy định rõ về các loại tài sản góp vốn

Tại Khoản 1, Điều 35 Luật doanh nghiệp 2014 quy định rõ các loại tài sản góp vốn gồm có:

Tài sản góp vốn có thể là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam.

Tại điều 35 cũng quy định cụ thể về quyền sở hữu trí tuệ dùng để góp vốn, chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp đối với các quyền nói trên mới có quyền sử dụng tài sản là quyền sở hữu trí tuệ để thực hiện việc góp vốn.

b) Quy định cụ thể về thời hạn góp vốn

Theo quy định tại Luật doanh nghiệp năm 2014, thời hạn góp vốn là 90 ngày kể từ thời điểm công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005 không có quy định thống nhất về thời hạn góp vốn của các thành viên, và quy định về thời hạn góp vốn của chủ sở hữu với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần cũng khác nhau.

Việc quy định thời hạn góp vốn cố định là 90 ngày đối với các loại hình công ty tạo nên sự bình đẳng giữa việc góp vốn của các thành viên, bảo đảm cho nghĩa vụ thực hiện góp vốn của nhà đầu tư vào doanh nghiệp, từ đó có căn cứ, cơ sở để phân định quyền và nghĩa vụ của các thành viên với công ty, của công ty đối với các nhà đầu tư trong trường hợp thành viên không góp đủ vốn trong thời hạn quy định.

c) Quy định về tăng, giảm vốn điều lệ của công ty

Theo quy định tại Luật doanh nghiệp năm 2005, Công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty Cổ phần và công ty TNHH một thành viên đều được tăng vốn điều lệ trong quá trình hoạt động, tuy nhiên đối với trường hợp giảm vốn điều lệ thì công ty TNHH là công ty duy nhất không được đăng ký giảm vốn điều lệ.

Việc quy định không được giảm vốn đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên đã tạo nên nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động kinh doanh cũng như tạo nên sự bất bình đẳng giữa các loại hình công ty. Khiến cho nhiều nhà đầu tư gặp nhiều khó khăn trong quá trình đầu tư, kinh doanh tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.

Để khắc phục được vấn đề bất cập này, Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã có nhiều quy định mới. Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì tất cả các loại hình công ty đều có quyền đăng ký thay đổi vốn điều lệ (tăng, giảm) nếu đáp ứng đủ các điều kiện khi đăng ký thay đổi vốn điều lệ.

Ví dụ tại Khoản 5, Điều 111 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định về điều kiện đăng ký thay đổi vốn điều lệ của công ty cổ phần:

5.Công ty có thể thay đổi vốn điều lệ trong các trường hợp sau đây:
a) Theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông, công ty hoàn trả một phần vốn góp cho cổ đông theo tỷ lệ sở hữu cổ phần của họ trong công ty nếu công ty đã hoạt động kinh doanh liên tục trong hơn 02 năm, kể từ ngày đăng ký doanh nghiệp và bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác sau khi đã hoàn trả cho cổ đông;
b) Công ty mua lại cổ phần đã phát hành quy định tại Điều 129 và Điều 130 của Luật này;
c) Vốn điều lệ không được các cổ đông thanh toán đầy đủ và đúng hạn theo quy định tại Điều 112 của Luật này.

3. Về con dấu pháp nhân của doanh nghiệp

Theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2005 thì mỗi pháp nhân chỉ được sử dụng, đăng ký một con dấu. Điều này gây nhiều bất tiện cho công ty trong quá trình hoạt động kinh doanh.

Con dấu pháp nhân của doanh nghiệp
Con dấu pháp nhân của doanh nghiệp

Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định công ty có quyền quyết định hình thức, số lượng, mẫu con dấu. Tức là doanh nghiệp có thể có nhiều hơn một con dấu, doanh nghiệp có quyền thiết kế mẫu con dấu theo ý muốn của mình, và chỉ cần đảm bảo được một số nội dung bắt buộc trên con dấu để nhận diện đây là con dấu của doanh nghiệp như: Tên công ty, mã số thuế/ địa chỉ trụ sở chính…

4. Người đại diện của công ty

Đây cũng là một quy định khá mới của Luật doanh nghiệp năm 2014, Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty cổ phần có thể có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật và điều lệ công ty sẽ quy định cụ thể về chức danh, quyền và nghĩa vụ của từng cá nhân là người đại diện theo pháp luật của công ty.

Quy định mới này được đưa vào áp dụng đã tạo sự thuận tiện lớn cho doanh nghiệp trong quá trình thương thảo, tham gia ký kết nhiều giao dịch với các đối tác của công ty.

Trên đây là một số điểm nổi bật tiến bộ của Luật doanh nghiệp năm 2014 so với Luật doanh nghiệp năm 2005, ngoài ra còn nhiều quy định tiến bộ mà Luật doanh nghiệp năm 2014 đã được bổ sung thêm hi vọng với một vài điểm mà chúng tôi nêu lên giúp bạn định hướng và tìm ra được tất cả những điểm mới và tiến bộ hơn Luật doanh nghiệp năm 2005.

Trân trọng/

So sánh Luật doanh nghiệp năm 2005 và Luật Doanh nghiệp năm 2014
4.9 (97.5%) 8 votes

Đội ngũ luật sư của chúng tôi luôn trực 24/7 để giải đáp mọi vấn đề liên quan đến pháp luật của bạn. Gặp trực tiếp luật sư tư vấn gọi 1900 6590. Trân trọng cảm ơn!

Chuyên viên tư vấn: Luật Quốc Huy

So sánh Luật doanh nghiệp năm 2005 và Luật Doanh nghiệp năm 2014
4.9 (97.5%) 8 votes

Bạn có thể tham khảo các bài viết khác:

Tư vấn pháp luật doanh nghiệp Đóng góp ý kiến

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

 Top
1900 6590